Thông tin về các thành viên trong nhóm DBSK

0
5215

Nhóm DBSK thành lập năm 2003 bởi SM Entertainment  gồm 5 thành viên  U-know YunHo, YoungWoong JaeJoong, Junsu, Changmin, Micky YooChun..

  • Tiểu sử của Yoona nhóm SNSD Hàn Quốc đầy đủ nhất
  • Tiểu sử của nhóm HKTM THE FIVE

Tiểu sử nhóm DBSK

TVXQ là một nhóm nhạc Hàn Quốc, được thành lập ngày 24 tháng 12 năm 2003 bởi SM Entertainment. Tại Hàn Quốc nhóm còn được biết đến với tên Dong Bang Shin Gi (hay Dong Bang Shin Ki), viết tắt DBSG (hoặc DBSK) (동방신기). Họ đã được giới thiệu tại Nhật Bản dưới tên Tohoshinki (東方神起) vào năm 2005, với công ty chủ quản là Rhythm Zone (công ty con của Avex). Tên phiên âm Hán-Việt của họ là Đông phương thần khởi, có nghĩa là “Những vị thần đến từ phương Đông”. Tên fanclub của nhóm là Cassiopeia (tên chòm sao gồm 5 ngôi sao tượng trưng cho 5 thành viên), màu bóng của nhóm là màu đỏ.

Thông tin về các thành viên trong nhóm DBSK

Nhóm TVXQ là một trong những nhóm nhạc thành công nhất tại Châu Á và nhóm thường được gọi là “Asia’s Stars” và “Kings of Korean Pop and Hallyu Wave” với sự thành công to lớn của nhóm và sự đóng góp cho nền nhạc pop Hàn Quốc. Kể từ khi ra mắt, TVXQ đã phát hành 5 album tiếng Hàn, 5 album tiếng Nhật, hơn 20 ca khúc tiếng Hàn và hơn 30 ca khúc tiếng Nhật. Theo thống kê của Gaon Chart, đến tháng 03.2012, TVXQ đã bán được hơn 10.1 triệu bản album, single và DVD trong suốt sự nghiệp của nhóm chỉ tính Hàn Quốc và Nhật Bản, không bao gồm các quốc gia Châu Á và các nước khác. Sau khi nổi tiếng trên toàn thế giới, TVXQ đã bán được hơn 20 triệu album, single, DVD và ấn phẩm sách riêng của nhóm trên toàn thế giới, làm cho nhóm trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc thành công nhất tại Châu Á và trên toàn thế giới. The Best Selection 2010 của TVXQ đã phá kỷ lục ca sĩ nam nước ngoài vượt qua cột mốc 700,000 bản tại Nhật Bản. Nhóm có 2 fanclub chính thức tại Hàn Quốc và Nhật Bản với tên gọi Cassiopeia và BigEast, đã đạt được Guinness World Record năm 2008 về số lượng thành viên và là 1 trong các fanclub lớn nhất trên thế giới, với 1.5 triệu fan trên toàn Châu Á và 5.5 triệu fan trên toàn thế giới.

TVXQ đứng đầu Oricon Weekly Singles Chart lần thứ 9 bằng việc phát hành ca khúc “Keep Your Head Down” từ album cùng tên của nhóm tại Nhật Bản, thêm kỷ lục cho nhóm trở thành nghệ sĩ nước ngoài có nhiều ca khúc đứng đầu nhất. Đây là lần thứ 2 kể từ khi Oricon được thành lập vào năm 1968, một nghệ sĩ nước ngoài có ca khúc bán được hơn 200,000 bản trong tuần đầu tiên. Lấn đầu tiên là vào năm 2009, TVXQ bán được 256,000 bản cho “Break Out!”.
Năm 2011, TVXQ quay trở lại như là bộ đôi bằng việc phát hành một album nhạc pop tiếng Hàn Keep Your Head Down, xếp vị trí thứ No.1 trên Gaon Chart 2 tuần liền sau khi phát hành. Full-length album tiếng Nhật TONE được phát hành vào ngày 28.09.2011, bán được 205,000 bản trong tuần đầu tiên và xếp hạng #1 trên Daily, Weekly và Monthly Oricon Charts. Đây là lần đầu tiên kể từ khi ra mắt của TVXQ, nhóm đã giành được giải #1 trên tất cả 3 Bảng xếp hạng Oricon. Kể từ khi quay trở lại vào năm 2011, TVXQ đã bán được hơn 1 triệu bản gồm album tiếng Hàn và single tiếng Nhật.

Bên cạnh việc ca hát, TVXQ cũng tham gia nhiều hoạt động khác trong lĩnh vực điện ảnh, truyền hình, quảng cáo và các hoạt động xã hội.

Thông tin từng thành viên nhóm DBSK

Nhóm DBSK đã ra mắt vào năm 2003 như là một nhóm nhạc 5 thành viên bao gồm: Leader U-Know Yunho, Max Changmin, Hero Jaejoong, Micky Yoochun và Xiah Junsu. Tháng 07.2009, 3 trong số 5 thành viên đã nộp đơn kiện Công ty quản lý SM Entertainment. Điều này dẫn đến TVXQ phải ngừng tất cả các hoạt động của mình và xuất hiện trở lại vào năm 2009. Sau một thời gian gián đoạn trong vòng 2 năm 3 tháng, TVXQ đã quay trở lại như là bộ đôi gồm Yunho và Changmin.

1/ U-know YunHo nhóm DBSK

Jeong Yunho hay Jung Yunho (Trịnh Duẫn Hạo), thường được biết đến với nghệ danh U-know Yunho tại Hàn Quốc và Yunho (Nhật: ユンホ Yunho?) (tại Nhật Bản), là một ca sĩ-nhạc sĩ Hàn Quốc, đôi khi còn là một diễn viên. Anh là nhóm trưởng của nhóm nhạc Hàn Quốc TVXQ, hay Dong Bang Shin Ki tại Hàn Quốc và Tohoshinki tại Nhật Bản.

Thông tin về các thành viên trong nhóm DBSK

  • Nghệ danh : U-KNOW | U-know YunHo
  • Tên thật: Jung YunHo
  • Ngày sinh: 06 tháng Hai, 1986
  • Nơi sinh: Gwangju
  • Nhóm máu: A
  • Chiều cao: 184 cm
  • -Nặng: 66 kg.
  • -Vị trí: Trưởng nhóm kiêm giọng nam trầm.

Thời niên thiếu

Jeong Yunho sinh ngày 6 tháng 2 năm 1986 tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc. Yunho có một tuổi thơ khá êm đềm cho đến năm anh 14, 15 tuổi thì gia đình anh suy sụp trong cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á. Ngay từ khi học sơ trung, anh đã phải đi làm thêm kiếm tiền phụ giúp gia đình, cũng như phải làm rất nhiều công việc vất vả khác khi lên Seoul vừa học vừa làm.

Năm 13 tuổi, Yunho gia nhập SM Entertainment sau khi đoạt giải nhất một cuộc thi nhảy. Khi TVXQ chưa được thành lập, Yunho từng được công ty xếp vào cùng một nhóm với Gim Jae-jung (thành viên TVXQ sau này), Heechul và Kang-in (thành viên Super Junior sau này), nhóm này dự định có tên là Four seasons nhưng dự án không thành. Trước khi ra mắt cùng TVXQ vào cuối năm 2003, Yunho đã từng xuất hiện trong MV “Diamond” của Dana với tư cách vũ công và rapper. Nghệ danh “U-know”, theo ý Yunho có thể viết thành “Yunho knows you” (Yunho biết bạn), thể hiện sự đồng cảm, hiểu biết với các thành viên TVXQ trong tư cách trưởng nhóm.

Ngoài vai trò ca sĩ, Yunho còn sáng tác và viết rap. Yunho hát đơn tiếng Nhật bài “Crazy Life” trong đĩa đơn “Close to you/Crazy Life”, thuộc series “TRICK” của nhóm; sáng tác bài và viết lời “Checkmate”; viết lời, soạn nhạc và trình bày “Spokesman” cùng DongHae (Super Junior) trong tour hòa nhạc châu Á lần 2 – “O”. Anh còn viết lời rap cho “Love after love” (nằm trong album Rising Sun của nhóm) cùng Micky Yoochun và Xiah Junsu; viết lời rap cho “Wrong number” và “Love by love” (nằm trong album Mirotic).

U-know Yunho không phải là một nghệ sĩ có giọng ca quá xuất sắc nhưng anh là 1 vũ công có khả năng vũ đạo tuyệt vời bậc nhất của showbiz Hàn quốc.

Tháng 3/2010 Jung Yunho được chọn là nghệ sĩ châu Á biểu diễn một buổi hòa nhạc riêng để tưởng niệm ông vua nhạc pop Micheal Jackson và đã biểu diễn rất thành công.

Đứng ở góc độ là trưởng nhóm của 1 nhóm nhạc, anh luôn luôn được bầu chọn là trưởng nhóm tuyệt vời nhất Kpop với khả năng dẫn dắt và tinh thần trách nhiệm cao độ. Anh là một trưởng nhóm được nhiều người nể phục và ngưỡng mộ.
Từ cuối 2009, Jung Yunho trở thành người mẫu độc quyền cho hãng thời trang Evisu cho đến nay. Doanh số của Evisu tăng lên một cách đáng kinh ngạc từ sau khi Jung Yunho trở thành người mẫu…điều đó đủ cho thấy sức cuốn hút của chàng trai này.

Anh từng bị một người đầu độc bằng cách trộn keo với nước và giả vờ là một người hâm mộ để đưa cho anh uống. Môi của Yunho thực sự chảy máu rất nhiều, nhưng anh không kiện người đó, bởi anh nói rằng anh cũng có 1 người em gái ở tuổi đó. Câu nói ấy đã làm hàng nghìn người rơi nước mắt vì sự cao cả của anh

Sự nghiệp diễn xuất

Ngoài lĩnh vực ca nhạc, Yunho còn hoạt động trong điện ảnh. Năm 2005-2006, anh cùng các thành viên khác của TVXQ tham gia diễn xuất trong một số tập của bộ phim ăn khách “Banjun Theater” và “Vacation”. Năm 2009, anh đóng vai chính trong bộ phim “Heading to the Ground” (맨땅에 헤딩).

Trong thời gian từ cuối tháng 11/2010 Yunho tham gia vào một bộ phim được đánh giá sẽ là một trong những bộ phim thành công nhất 2011 – “Poseidon” – bộ phim nói về công việc của các cảnh sát biển Hàn Quốc với sự tham gia của nhiều diễn viên tài năng. Với bộ phim này, hi vọng rằng anh sẽ có 1 bước tiến mới trong sự nghiệp diễn xuất sau một “Heading to the Ground” bị đánh giá thấp.

Đời sống riêng

Trước khi ra nhập làng giải trí, Yunho cũng đã từng có bạn gái. Nhưng do hiểu lầm nên sau này cả hai đã chia tay. Trong một buổi phỏng vấn, Yunho từng nói sẽ kết hôn vào năm 27 tuổi tuy nhiên sau này anh lại trả lời rằng muốn kết hôn năm 30 tuổi…điều này có lẽ sẽ còn có nhiều thay đổi trong tương lai.

Từ sau buổi ra mắt đầu tiên trước công chúng, nổi bật nhất chính là những đồn đoán về mối quan hệ của anh với thành viên Hero Gim Jae-jung (giọng ca chính của TVXQ). Hai người ở bên nhau luôn luôn có những hành động và cử chỉ gần gũi trên mức bình thường, đặc biệt là sự bảo vệ mà Yunho luôn dành cho Jae-jung và sự ấm áp dịu dàng Jae-jung dành cho Yunho. Cho đến nay Yunjae vẫn là một couple luôn luôn gây tò mò và nhận được nhiều sự ủng hộ của người hâm mộ

Yunho được biết đến như một người rất có đầu óc và thông minh. Thực tế, những năm còn trung học, tuy rất bận rộn vừa học vừa làm, nhưng Yunho vẫn luôn đạt điểm cao và được trao bằng khen cho việc không vắng mặt bất cứ một buổi học nào trong suốt 3 năm học

2/ Thông tin về thành viên YoungWoong JaeJoong

Kim Jaejoong (김재중, 金在中, Gim Jae-jung, Kim Tại Trung; sinh 26 tháng 1 năm 1986), thường được biết đến với nghệ danh Hero (Anh hùng), Youngwoong Jaejoong (Anh Hùng Tại Trung, tại Hàn Quốc) và Jejung (Nhật: ジェジュン Jejun?) (tại Nhật Bản), là một ca sĩ-nhạc sĩ Hàn Quốc, đôi khi còn là một diễn viên. Anh là thành viên của nhóm nhạc Hàn Quốc TVXQ, hay Dong Bang Shin Gi tại Hàn Quốc và Tohoshinki tại Nhật Bản.

Thông tin về các thành viên trong nhóm DBSK

  • Nghệ danh : HERO | YoungWoong JaeJoong
  • Tên thật : Kim JaeJoong , ngoài ra còn có tên Han Jae Jun là tên do cha mẹ ruột đặt
  • -Tên thân mật: Boo Jae Joong
  • Ngày sinh: 26 tháng Một, 1986
  • Nơi sinh: Choong Nam.
  • Vai trò trong nhóm: Vocal chính
  • Nhóm máu: 0
  • -Cao: 1.80m.
  • -Nặng: 63 kg.
  • – Cỡ giày: 275mm.
  • -Vị trí: Hát chính.

Thời niên thiếu

Kim Jaejoong là người con trai duy nhất trong một gia đình có nhiều chị em gái. Trước khi trở thành một ca sĩ, Jaejoong đã phải trải qua một cuộc sống nghèo khó và vất vả. Nghệ danh YoungWoong Jaejoong được anh chọn theo lời khuyên của một thầy bói. “YoungWoong” theo tiếng Hàn có nghĩa là Hero – vì vậy Hero trở thành một tên gọi quen thuộc của Jaejoong cho các fan trong và ngoài nước. Jaejoong được đánh giá là thành viên ưa nhìn nhất và có giọng hát khá nhất trong nhóm. Chính vì vậy, anh được giao vai trò là vocal chính của DBSG

Kim Jaejoong có tên khai sinh Han Jae-jun (한재준, 韓在俊, Hàn Tại Tuấn), Gongju, sinh tại Chungcheongnam-do, Hàn Quốc. Khi còn nhỏ, anh được được nhà họ Kim nhận nuôi và đổi tên thành Kim Jae Joong. Năm 16 tuổi, anh một mình lên Seoul để tham gia một cuộc thi tuyển chọn của SM Entertainment. Cuộc sống ở Seoul vô cùng vất vả và Gim Jae-jung phải làm rất nhiều công việc khác nhau để chi trả tiền nhà. Anh tham gia một vai phụ trong Taegeukgi Hwinallimyeo (태극기 휘날리며); và dùng số tiền kiếm được mua kẹo cao su để bán cho các nhân viên trong siêu thị.

Sự nghiệp âm nhạc

Kim Jaejoong tham gia thử giọng tại SM Entertainment năm 2001 và được nhân vào hãng. Ngày 26 tháng 12 năm 2003, anh ra mắt cùng nhóm TVXQ trong một buổi diễn của BoA và Britney Spears. Bên cạnh hoạt động trong nhóm, Kim Jaejoong cũng hoạt động đơn lẻ. Anh thể hiện ca khúc “Insa” (인사 Greeting), cho nhạc nền phim A Millionaire’s First Love. Jaejoong cũng hợp ca với The Grace cho ca khúc “Just for One Day”, xuất hiện trong đĩa đơn tiếng Nhật thứ năm và album ra mắt của họ, Graceful 4. Kim Jaejoong đơn ca ca khúc “Maze” trong đĩa đơn thứ năm và cuối cùng của dự án Trick, “Keyword/Maze”.Anh cũng viết nhạc và lời bài “Wasurenaide” (Nhật: 忘れないで lit. Đừng quên?) trong đĩa đơn thứ 25 của TVXQ, “Bolero/Kiss the Baby Sky/Wasurenaide”.Sau đó bài hát được phát hành trong album tiếng Nhật thứ 4 của TVXQ, The Secret Code, cùng với một bài hát khác do anh viết, “9095”. Cho album tiếng Hàn thứ 4 của TVXQ, Mirotic, Kim Jaejoong viết nhạc và lời ca khúc Saranga Uljima (Don’t Cry My Lover) (사랑아 울지마).
Tháng 9 năm 2009, anh đã sáng tác và cùng Micky Yoochun song ca ca khúc “Colors – Melody and Harmony”. Đây là bài hát chủ đề của lễ kỉ niệm 35 năm chú mèo Hello Kitty và nằm trong đĩa đơn “Colors – Melody and Harmony” được phát hành ngày 23 tháng 9 năm 2009. Đĩa đơn còn bao gồm ca khúc “Shelter”, một sáng tác chung của Kim Jaejoong, Yoochun và Junsu

Tháng 12 năm 2010, anh đã sáng tác ca khúc “Nine” nói về quãng đường gắn bó của cả 5 thành viên kể từ khi Yoochun vào nhóm.

Sự nghiệp diễn xuất

Cùng với những thành viên khác của TVXQ, Kim Jaejoong đóng vai chính trong hai chương trình truyền hình, Banjun Theater và Vacation.

Kim Jaejoong cũng đóng vai chính trong bộ phim điện ảnh hợp tác Hàn-Nhật, “Heaven’s Postman” (천국의 우편 배달부)., bên cạnh nữ diễn viên Han Hyo Joo. 9 tháng 3 năm 2010, có thông báo chính thức Kim Jaejoong sẽ tham gia một bộ phim truyền hình Nhật Bản Hard To Say I Love You (Nhật: Sunao ni Narenakute 素直になれなくて?).

Bị thương

Tháng 9 năm 2005, trong khi điều chỉnh vũ đạo cho “Rising Sun”, Kim Jaejoong bị vỡ sụn đầu gối và được đưa tới một bệnh viện ở Seoul. Anh được phẫu thuật trong ngày hôm đó để điều trị vết thương.

Vụ kiện SM Entertainment

Cuối tháng 7 năm 2009, Kim Jaejoong cùng hai thành viên của TVXQ: Micky Yoochun, và Xiah Junsu— cùng kí vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment. Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra. Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 2 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la). Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.

Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Kim Jaejoong, Junsu và Yu-chun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra. Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.
Trong DBSK thường chia ra thành các cặp và Kim Jaejoong & Yunho ( trưởng nhóm ) tạo thành 1 cặp điển hình nhất ~ Yunjae. Cho đến nay, cặp này có rất nhiều hành động khiến người hâm mộ nghi ngờ về tính đúng sai của nó. Hành động, cử chỉ, lời nói của họ luôn vượt quá mức cho phép. Cũng có lẽ là vì thế nên hàng loạt tiểu thuyết của người hâm mộ đã được đăng lên rất nhiều diễn đàn, gây được sự chú ý trong những người hâm mộ. Có rất nhiều người có cái nhìn nghiêm túc đối với mối quan hệ của Yunjae và cho rằng tình cảm giữa họ là 1 tình yêu đẹp và đáng ngưỡng mộ.
Yunjae là cặp nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ người hâm mộ, cùng với Yoosu là 2 cặp “chính thức” của DBSK

3/ Micky YooChun nhóm DBSK

Park Yoochun (sinh 4 tháng 6 năm 1986), thường được biết đến với nghệ danh Micky, Micky Yoochun (tại Hàn Quốc) và Yuchun (Nhật: ユチョン Yuchon?) (tại Nhật Bản). Anh là một ca sĩ-nhạc sĩ Hàn Quốc, và đôi khi còn là một diễn viên. Yoochun là thành viên của nhóm nhạc Hàn Quốc TVXQ.

Thông tin về các thành viên trong nhóm DBSK

  • Nghệ danh : MICKY | Micky YooChun
  • Tên thật: Park YooChun
  • Ngày sinh: 04 tháng Sáu, 1986
  • Nơi sinh: Seoul
  • Nhóm máu: O
  • Chiều cao: 178cm
  • -Nặng: 63 kg.
  • -Vị trí: Giọng nam trầm.
  • -Sở thích: Sáng tác, piano, hát, ăn vặt, uống Soda, lái xe, nhảy.

Thời niên thiếu

Yoochun sinh ra và lớn lên tại Seoul, Hàn Quốc. Năm lớp 6, anh theo gia đình chuyển sang Mỹ và định cư tại Virginia. Anh nhập học ở trường sơ trung Holmes Middle của hạt và trường trung học Chantilly. Anh được phát hiện bởi Brothers Entertainment và được đưa trở lại Hàn Quốc rồi gia nhập SM Entertainment. Anh cùng có một người em trai tên Park Yoohwan (Phác Hữu Hoàn).

Sự nghiệp âm nhạc

Tháng 12 năm 2003, Yoochun ra mắt cùng TVXQ trong một buổi biểu diễn đặc biệt có sự tham gia của BoA và Britney Spears. Bên cạnh làm việc cùng TVXQ, anh cũng có một số hoạt động riêng lẻ. Yoochun xuất hiện trong ca khúc “Tokyo Lovelight”, rút từ album Stars của DJ Makai (người Nhật). Anh cùng U-know Yunho đọc rap trong ca khúc “Heartquake” nằm trong album thứ 3 của Super Junior, Sorry, Sorry.

Sự nghiệp diễn xuất

Yoochun xuất hiện trong một số tập của hai show truyền hình ăn khách cùng TVXQ, Banjun Theater và Vacation.Năm 2006, anh đóng vai trò khách mời trong bộ phim Rainbow Romance.

Năm 2010, Yoochun cùng Park Min Young, Song Joong Ki và Yoo Ah In cùng đóng trong bộ phim Sungkyunkwan Scandal được chiếu trên kênh KBS kể từ ngày 30 tháng 8.  Anh đã dành được giải thương Best male new comer, cùng với Park Min Young nhận giải couple đẹp đôi, Giải được quan tâm nhiều nhất trên các trang mạng tại lễ trao giải Drama adwards của đài KBS vào ngày 31/12/2010

Sáng tác

Yoochun đã sáng tác một số ca khúc trong các album tiếng Hàn và tiếng Nhật của TVXQ. Cùng với U-Know Yunho và Xiah Junsu, anh viết lời rap cho “Love After Love” trong album tiếng Hàn thứ hai của nhóm, Rising Sun. Là một thành viên của SM Town, anh tham gia vào album mùa đông 2007 của hãng, Only Love với sáng tác “Evergreen”. Yoochun cũng viết ca khúc “Sarang Annyeong Sarang (Love Bye Love)” (사랑 안녕 사랑), nằm trong album tiếng Hàn thứ 4, Mirotic.Anh cũng viết lời và đồng sáng tác nhạc ca khúc tiếng Nhật “Kiss Shita Mama, Sayonara” (Nhật: Kissしたまま、さよなら lit. As We Kiss, Goodbye?) cùng với Hero Jaejoong trong album tiếng Nhật thứ 3, T. Trong dự án Trick, anh viết lời cho ca khúc đơn của mình “My Girlfriend” bằng tiếng Anh. “Kiss the Baby Sky”, ca khúc trong đĩa đơn tiếng Nhật thứ 25 của TVXQ, là ca khúc đầu tiên do Yoochun hoàn toàn sáng tác nhạc và lời. Tháng 9 năm 2009, anh và Jaejoong song ca “Colors – Melody and Harmony”, do hai người cùng sáng tác và được sử dụng làm ca khúc chủ đề cho lễ kỉ niệm 35 năm mèo Hello Kitty.

Tháng 4 năm 2010, theo thông tin từ Avex Ent., Yoochun sẽ tham gia một bộ phim truyền hình Nhật Bản trên BeeTV mang tựa đề “Loving You”, bên cạnh nữ diễn viên Nhật Omasa Aya.
Anh cũng tham gia với vai trò là diễn viên chính trong bộ phim được ví như F4 cổ trang : ” SungKyunKwan’s Scandal ” , trong vai “Lee Sun Jun”. Đây cũng là bộ phim debut của anh trong vai trò một diễn viên.

Vụ kiện SM Entertainment

Cuối tháng 7 năm 2009, Micky Yoochun cùng hai thành viên khác của TVXQ —Kim Jaejoong và Xiah Junsu— cùng kí vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment. Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra. Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 2 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la). Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.

Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Jaejoong, Junsu và Yoochun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra. Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.

4/ Xiah Junsu DBSK

Kim Junsu (sinh 15 tháng 12 năm 1986; trên giấy khai sinh 1 tháng 1 năm 1987, tại Gyeonggi-do, Hàn Quốc) thường được biết đến với nghệ danh Xiah, Xiah Junsu (tại Hàn Quốc) và Junsu ( ジュンス?) (tại Nhật Bản). Anh là một ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công và đôi khi là một diễn viên người Hàn Quốc. Junsu là một thành viên trong nhóm nhạc Hàn Quốc TVXQ.

Xiah Junsu DBSK cao ban nhieu

  • Nghệ danh : XIAH | Xiah JunSu
  • Tên thật: Kim JunSu
  • Ngày sinh: 1 tháng một, 1987
  • Nơi sinh: Gyeonggi
  • Nhóm máu: B
  • Cao: 1.80m.
  • Nặng: 65 kg.Vị trí: Giọng nam trung

Thời niên thiếu

Xiah Junsu sinh ra và lớn lên tại Gyeonggi-do, Hàn Quốc. Anh còn có một anh trai song sinh tên Kim Junho (Kim Tuấn Hào). Junsu là thành viên đầu tiên gia nhập TVXQ. Anh vào SM Entertainment năm 12 tuổi sau khi chiến thắng trong một cuộc thi ca hát trên truyền hình có giám khảo là hai cựu thành viên của H.O.T., Moon Hee Jun và Kangta. Anh ra mắt cùng TVXQ trong một xô diễn đặc biệt của BoA và Britney Spears. Anh chọn nghệ danh Xiah, là viết gọn của “Asia” (châu Á), phát âm như “ah-shee-ah” trong tiếng Hàn. “Xiah” thể hiện hoài bão của Junsu trở thành một ngôi sao không chỉ trong phạm vi Hàn Quốc mà còn là một ngôi sao của mọi thời đại.

Sự nghiệp âm nhạc

Năm 2002, Junsu tham gia vào Cuộc tuyển chọn ngôi sao hằng năm lần thứ 6 và được SM Entertainment đưa vào TVXQ. Anh cũng tham gia vào một dự án Anycall của Samsung, Anyband. Nhóm gồm BoA, Tablo của Epik High, và nghệ sĩ dương cầm Jin Bora. Nhóm chỉ phát hành một đĩa đơn, “AnyBand”. Năm 2006, anh cùng Zhang Liyin song ca trong đĩa đơn ra mắt của cô, “Timeless. Junsu viết nhạc và lời ca khúc “Nae Gyeote Sumsiur Su Ittdamyeon (White Lie)” (네 곁에 숨쉴 수 있다면), nằm trong album tiếng Hàn thứ 3 của TVXQ, “O”-Jung.Ban.Hap.. Trong dự án Trick, anh sáng tác ca khúc đơn của mình “Rainy Night”.Junsu viết lời ca khúc “Noeur.. Baraboda (Picture of You)” (노을..바라보다) trong album tiếng Hàn thứ 4 của nhóm, Mirotic. Trong concert Tohoshinki 4th Live Tour 2009: The Secret Code tổ chức tại Tokyo Dome, Junsu cũng có một phần biểu diễn ca khúc tiếng Nhật tự sáng tác “Xiahtic”.
Tháng 2010, Junsu bắt đầu sự nghiệp sân khấu với vai chính trong vở nhạc kịch “Mozart”.
Tháng 4 năm 2010, Junsu đã xác nhận sẽ ra mắt solo với đĩa đơn mới mang tên “XIAH Junsu”.

Sự nghiệp diễn xuất

Junsu đã xuất hiện trên hai sô truyền hình cùng TVXQ, Banjun Theater và Vacation. Junsu cùng với Yoochun tạo nên couple Yoosu – 1 trong 2 offcial couples. Đây là couple vô cùng trẻ con và dẽ thương. Ngoài ra còn có 1 couple khác là JaeSu, hay còn gọi là Dolig. Junsu có phần sợ Changmin và anh ước 1 lần được trở thành Changmin và sử dụng sức mạnh của anh.

Vụ kiện SM Entertainment

Cuối tháng 7 năm 2009, Xiah Junsu cùng hai thành viên khác của TVXQ —Kim Jaejoong và Micky Yoochun— cùng kí vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment. Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra. Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 2 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la). Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.

Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Jaejoong, Junsu và Yoochun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra. Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.

5/ Thông tin về MAX – ChoiKang ChangMin

him Changmin (심창민, 沈昌珉, Thẩm Xương Mân, sinh 18 tháng 2 năm 1988) thường được biết đến với nghệ danh Max (quốc tế), Choikang Changmin (최강창민, Tối Cường Xương Mân) (Hàn Quốc) và Changmin (チャンミン) (Nhật Bản) là một ca sĩ, nhạc sĩ và diễn viên Hàn Quốc và là một trong năm thành viên của TVXQ. Nhà quản lí của anh là SM Entertainment ở Hàn Quốc và Rhythm Zone ở Nhật Bản.

Thông tin về các thành viên trong nhóm DBSK

  • Nghệ danh : MAX | ChoiKang ChangMin
  • Tên thật: Shim ChangMin
  • Ngày sinh: 18 tháng 2, 1988
  • Nơi sinh: Seoul
  • Vị trí trong nhóm: Giọng Tenor
  • Nhóm máu: B
  • Chiều cao: 186cm
  • -Nặng: 64 kg
  • -Vị trí: Giọng nam cao.

Thời niên thiếu

Shim Changmin sinh ra và lớn lên tại Seoul, Hàn Quốc. Anh có hai người em gái, Shim Sooyeon và Shim Kiyeon. Anh vào SM Entertainment sau khi giành giải ca sĩ xuất sắc nhất và nghệ sĩ xuất sắc nhất trong Giải trẻ SM Entertainment thường niên lần 6, một cuộc tìm kiếm tài năng trẻ của hãng.

Anh ra mắt cùng nhóm TVXQ năm 2004 với ca khúc “Hug”, trong buổi biểu diễn đặc biệt của BoA và Britney Spears.

Sự nghiệp âm nhạc

Bên cạnh hoạt động cùng TVXQ, Changmin cũng tham gia một số dự án riêng lẻ khác. Năm 2007, anh viết lời cho ca khúc “Evergreen”, soạn nhạc bởi một thành viên khác của TVXQ là Micky Yoochun, nằm trong album 2007 Winter SMTown – Only Love của SMTown. Năm 2008, anh viết lời Hàn cho ca khúc “Love In The Ice” trong album tiếng Hàn thứ 4 của nhóm, Mirotic. Cùng năm đó, Changmin cũng hát đơn ca khúc tiếng Nhật “Wild Soul” cho đĩa đơn tiếng Nhật thứ 17 của TVXQ trong dự án Trick, Two Hearts/Wild Soul. Hè năm 2009, Changmin viết lời cho ca khúc “Nothing better -12:34” trong album 2009 SUMMER SMTOWN – SEASIDE

Sự nghiệp diễn xuất

Năm 2006, Changmin cùng với TVXQ đóng vai chính trong phim truyền hình ngắn Vacation. Anh xuất hiện trong phần “Beautiful Life” bên cạnh Xiah Junsu. Họ cùng tham gia một số phần của Banjun Theater, một show truyền hình ăn khách trên SBS. Năm 2009, Changmin tiếp tục với bộ phim truyền hình đầu tay “Paradise Ranch”.

Bạn bè và thần tượng

Changmin là bạn thân của Kyuhyun ( Super Junior ). Hai người là 2 maknae của 2 nhóm thân thiết, được biết đến với những thành tích trêu chọc, đùa nghịch các hyung của mình. Nhưng, cũng không phủ nhận được sự yêu mến, tình yêu của anh dành cho các hyung của mình. Thần tượng của Changmin là Han GaIn. Điều này đã được nhắc đến trong chương trình The Star Show ( Hàn Quốc ). Ngoài ra Changmin còn thân với Kim Kibum của Super Junior và Minho ( SHINee )

Học vấn

Changmin tốt nghiệp trường trung học Gaepo-dong năm 2006. Sau đó, anh nhập học tại Đại học Kyung Hee.Hiện anh đang học ngành y tại trường đại học này

Công việc tình nguyện

Tháng 1 năm 2008, Changmin cùng cha tình nguyện làm sạch bãi biển ở Taean sau thảm họa tràn dầu lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Anh dự định đi Taean âm thầm trong một kì nghỉ xả hơi ngắn của TVXQ và chỉ được tiết lộ với giới truyền thông khi một tình nguyện viên khác đăng hình của anh trên trang web của FC. Sự kiện này sau đó được xác nhận bởi quản lí của TVXQ.

tu khoa

  • thong tin ve nhom dbsk
  • thong tin ve nhom tvxq tan ra
  • tên các thành viên nhóm dbsk